bảng nhãn

(cg. bảng nhỡn), người đứng thứ nhì trong tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) trong kì thi Hội và thi Đình thời phong kiến ở Việt Nam. Bắt đầu từ 1232, Trần Thái Tông mở khoa thi thái học sinh (sau này là Tiến sĩ), đặt ra tam giáp, nghĩa là chia người đỗ làm ba hạng: đệ nhất giáp, đệ nhị giáp và đệ tam giáp. Đến 1247, Trần Thánh Tông mới đặt ra tam khôi, để gọi ba người đứng đầu đệ nhất giáp. Năm 1374, Trần Duệ Tông mở khoa thi Đình (thi ở sân vua) lấy Tiến sĩ, ba người đứng đầu là tam khôi. Thời Hậu Lê, năm 1434 Lê Thái Tông xuống chiếu định lại điều lệ thi Hội nhưng mãi đến 1442 mới mở khoa thi Hội và lấy lại tam khôi như lệ nhà Trần. Năm 1484, Lê Thánh Tông bỏ tam khôi gọi là Tiến sĩ cập đệ. Đời Nguyễn, có mở kì thi Hội nhưng về sau bỏ Trạng nguyên.



hd. Bậc tiến sĩ sau trạng nguyên trong khoa thi Đình: Họ Khâu bảng nhãn hai tên rành rành (Nh. Đ. Mai).
Tầm nguyên Từ điển
Bảng Nhãn

Bậc thứ hai khoa đình thi (Trạng Nguyên, bảng nhãn, thám hoa).

Họ Khâu bảng nhãn hai tên rành rành. Nhị Độ Mai

bảng nhãn

bảng nhãn
  • noun
    • First-rank doctorate second laureate (in Court feudal competition examination)