
quản lí I. đgt. ຄຸ້ມຄອງ. Quản lí lao động: ຄຸ້ມຄອງແຮງງານ
♦ Cán bộ quản lí: ພະນັກ ງານຄຸ້ມຄອງ.
2. ດູແລຮັກສາ ແລະ ຕິດຕາມ, ດູແລຮັກສາ. Quản lí hồ sơ và lí lịch: ດູແລຮັກ ສາ ແລະ ຕິດຕາມສຳເນົາ ແລະ ຊີວະປະຫວັດພະ ນັກງານ
♦ Quản lí vật tư: ດູແລຮັກສາວັດສະດຸ. II. dt. ການຄຸ້ມຄອງ. Cải tiến quản lí: ດັດແປງ ການຄຸ້ມຄອງ.
chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kĩ thuật, xã hội), bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó. Có quản lí kĩ thuật, QL xã hội, QL các đối tượng khác nhau. QL xã hội là sự tác động đến xã hội, nhằm mục đích duy trì những đặc điểm về chất, điều chỉnh, hoàn thiện và phát triển những đặc điểm đó của xã hội. Do tính chất xã hội của lao động của con người, QL tồn tại trong mọi xã hội ở bất cứ lĩnh vực nào và trong bất cứ giai đoạn phát triển nào. Lao động của con người luôn luôn là lao động tập thể, mỗi người có một vị trí nhất định trong tập thể, nhưng có quan hệ và có giao tiếp với người khác, tập thể khác trong quá trình lao động, Vì vậy, cần có sự QL để duy trì tính tổ chức, sự phân công lao động, các mối quan hệ giữa những người trong một tổ chức xã hội và giữa các tổ chức xã hội trong quá trình sản xuất vật chất, trong quá trình xã hội, nhằm đạt mục tiêu nhất định. QL là một khoa học, dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển của các đối tượng khác nhau, quy luật tự nhiên hay xã hội. Đồng thời, QL còn là một nghệ thuật, đòi hỏi nhiều kiến thức xã hội, tự nhiên, hay kĩ thuật, vv. Những hình thức QL có ý thức luôn gắn liền với hoạt động có mục tiêu, có kế hoạch của những tập thể lớn hay nhỏ của con người và được thực hiện qua những thể chế xã hội đặc biệt. Mục đích, nội dung, cơ chế và phương pháp QL xã hội tuỳ thuộc vào chế độ chính trị - xã hội. Trong quá trình tiến bộ của xã hội, những hình thức QL có ý thức đã có những biến đổi sâu sắc - từ việc QL xã hội nguyên thuỷ bằng những truyền thống và tập quán theo kinh nghiệm, đến việc QL một cách tự giác và khoa học sự phát triển của xã hội tiến dần lên trình độ phát triển cao. Việt Nam đang ở trong thời kì quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, cho nên QL xã hội phải có những hình thức phù hợp với điều kiện lịch sử, chính trị - kinh tế - xã hội của đất nước, nhằm giải phóng và phát triển mọi lực lượng sản xuất, trước hết là con người, khai thác mọi tiềm năng của đất nước, tận dụng được sức mạnh của thời đại với sức mạnh của dân tộc. Trong QL xã hội thì QL kinh tế có vị trí quan trọng nhất, bao gồm chủ yếu quản lí nhà nước về kinh tế và một phần rất quan trọng là quản lí kinh doanh. Trong QL xã hội và QL kinh tế, QL vĩ mô và QL vi mô đều có ý nghĩa lớn. Nhà nước Việt Nam xây dựng hệ thống QL kinh tế theo quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu đan xen nhau nhằm đạt năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao. Cơ chế QL kinh tế nói chung và QL của doanh nghiệp nói riêng, là cơ chế thị trường có sự QL của nhà nước, theo định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.