ngư cụ thụ động đón bắt tôm cá theo dòng chảy, thường được đặt cố định ở khu vực cửa sông. Tuỳ theo vùng hoạt động và kiểu kết cấu, Đ được chia thành các loại: Đ biển (Đ hàng cạn, Đ hàng khơi, Đ neo, Đ rạo, vv.); Đ sông (Đ rạch, Đ bè, vv.). Đ biển hàng khơi có thể đặt sâu tới 15 m. Đ neo có thể di chuyển vị trí. Đ có dạng túi lưới, mắt lưới nhỏ dần về phía đụt. Kích thước miệng lưới và mắt lưới thay đổi tuỳ loại: Đ biển loại lớn có chu vi miệng lưới tới 1.700 mắt lưới, kích thước kéo căng của mỗi mắt lưới tới 6,5 cm. Miệng lưới được mở cố định bằng các cọc, mép dưới nằm sát đáy, mép trên được điều chỉnh độ cao theo mức thuỷ triều. Đ thường đón tôm cá khi nước ròng (thuỷ triều xuống). Khi triều đứng (chuẩn bị chuyển hướng), thu đụt Đ lên lấy tôm cá lên thuyền, hoặc thu cả lưới nếu không cố định cho Đ hoạt động tiếp. Nghề Đ biển sử dụng thuyền lắp máy trên 20 cv, với 2 - 5 lao động. Nghề Đ sông dùng thuyền thủ công. Ở Việt Nam, nghề Đ phổ biến mạnh ở phía nam, nhất là ở Bạc Liêu, Cà Mau (chiếm 50 - 60% sản lượng tôm khai thác ở tỉnh này). Mỗi miệng Đ biển hàng khơi khai thác được tới trên 800 kg tôm vào vụ chính, 200 kg vào vụ phụ. Kích thước lưới cần được quy định để bảo vệ nguồn lợi cá.