(giáo dục), dạng hoạt động ngôn ngữ phổ biến của người học, người nghiên cứu nhằm mục đích tự giác nhận thức thông tin. Có nhiều hình thức Đ:
1) Đ to: Đ thành tiếng rõ ràng, thể hiện nội dung ngôn ngữ viết bằng cách phát âm đủ cường độ để người khác và bản thân người Đ tri giác được dựa vào thính giác.
2) Đ thầm: hành động tri giác ngôn ngữ viết gắn chủ yếu với hoạt động ngôn ngữ bên trong. Có 3 trình độ từ thấp đến cao tuỳ theo cường độ vận động của các khí quan phát âm: a) Đ thầm kèm theo vận động thấy được của môi hoặc thanh quản; b) Đ thầm kèm theo vận động rất yếu của khí quan phát âm khi giải mã, chủ yếu là sự chuyển tín hiệu thị giác thẳng vào bộ máy phân tích bên trong; c) Đ thầm thuần khiết, nhận thấy ngay được ý của ngôn ngữ viết, hoàn toàn không có sự tham gia cơ học của các khí quan phát âm và của cảm giác nghe.
3) Đ lướt: Đ nhanh, kĩ năng tri giác và phân tích sơ bộ ngôn ngữ bằng thị giác với tốc độ cao, trong đó nhiều chi tiết thứ yếu bị bỏ qua.
4) Đ hiểu: kĩ năng đọc thoát li các yếu tố trực tiếp của hình thái học ngôn ngữ, ngữ pháp, chính tả, chỉ nhằm thông hiểu mặt ngữ nghĩa của văn bản, cốt nắm ý tưởng và nội dung cần thiết.
5) Đ chính tả: kiểu đọc chuẩn mực đúng luật ngữ âm, ngữ điệu, có định lượng tiết tấu và tốc độ cho học sinh nghe để ghi chính xác từng lời thành văn bản.