tập hợp một số hữu hạn hình đa giác phẳng trong không gian sao cho: 1) Mỗi cạnh của một đa giác cũng là cạnh của một đa giác khác; 2) Từ mỗi đa giác có thể đi tới một đa giác tuỳ ý bằng cách đi qua tuần tự những đa giác kề. ĐD đơn là ĐD đồng phôi với một mặt cầu. Phần không gian giới hạn bởi một ĐD đơn gọi là khối ĐD (đôi khi còn gọi là hình ĐD hoặc nếu không sợ nhầm lẫn, là ĐD). Các hình đa giác của một ĐD, các cạnh và đỉnh của chúng được gọi lần lượt là mặt, cạnh, đỉnh của ĐD. Tuỳ theo số mặt mà ĐD được gọi là tứ diện (4 mặt), ngũ diện (5 mặt), lục diện (6 mặt), vv.
ĐD lồi là ĐD nằm về một phía của một mặt phẳng chứa một mặt tuỳ ý của nó. Số đỉnh cộng với số mặt rồi trừ đi số cạnh của một ĐD lồi bao giờ cũng bằng 2 (định lí Ơle). ĐD đều là ĐD lồi có tất cả các mặt là các đa giác đều bằng nhau và tất cả các góc ĐD bằng nhau (x. Góc đa diện). Chỉ có 5 dạng ĐD đều: tứ diện đều, hình lập phương, bát diện đều, thập nhị diện đều, nhị thập diện đều.
Đa diện
Đa điện đều
1. Tứ diện đều; 2. Lục diện đều (hình lập phương);
3. Bát diện đều; 4. Thập nhị diện đều; 5. Nhị thập diện đều