khoa học nghiên cứu về các quy luật chung của quá trình thông tin (thu thập, xử lí, truyền thông tin) và điều khiển trong các hệ thống. ĐKH được nhà toán học Hoa Kì Vinơ (N. Wiener) đặt cơ sở trong cuốn "Điều khiển học" ("Cybernetics") năm 1948 và phát triển mạnh nhờ những tiến bộ lớn của toán học, vật lí, kĩ thuật điện tử, máy tính và tin học, vv. Nội dung lí thuyết của ĐKH bao gồm: lí thuyết thông tin, lí thuyết về các thuật toán, lí thuyết ôtômat, lí thuyết về hành vi, lí thuyết điều khiển tối ưu, lí thuyết nhận dạng, vv. Ứng dụng vào các đối tượng khác nhau, ĐKH phân thành: 1) ĐKH kĩ thuật: đối tượng là các hệ thống kĩ thuật gồm hệ thu thập số liệu về đối tượng điều khiển lưu trữ, xử lí số liệu, mô hình hoá và điều khiển quá trình công nghệ, rôbôt và thiết bị điều khiển thông minh. 2) ĐKH sinh học: đối tượng là hệ thống sinh học và con người. Nghiên cứu về quá trình biến đổi và biến hoá của cơ thể sống, điều khiển cơ thể sống (biocybernetique), ĐKH sinh y, não và hệ thần kinh, mô hình các giác quan phỏng sinh học, vv. 3) ĐKH xã hội: đối tượng là xã hội loài người và hệ sinh thái; nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người, các quy luật về phát triển các hệ thống kinh tế, quy luật về hệ sinh thái, ảnh hưởng của loài người đến hệ sinh thái, điều khiển và bảo tồn hệ sinh thái, vv.
Tuy nhiên, dần dần người ta ít dùng từ cybernetics mà dùng những từ có nội dung xác định rõ hơn đối với từng phần của khoa học đó. Vd. khoa học thông tin, lí thuyết các hệ thống điều khiển, vv.