bê tông

(Ph. béton), loại vật liệu được tạo thành bằng cách dùng xi măng trộn với nước làm chất kết dính để liên kết các vật liệu rời thành một thứ đá nhân tạo. Vật liệu rời thường là đá dăm, sỏi, cát, được gọi chung là cốt liệu. Lúc mới trộn, BT ở dạng nhão, sau khô cứng dần. Quá trình khô cứng của BT là quá trình phản ứng hoá học giữa nước với xi măng, sản phẩm ban đầu ở dạng keo, sau kết thành mạng tinh thể. Chỉ tiêu chất lượng cơ bản nhất của BT là mác theo cường độ chịu nén, là con số lấy bằng cường độ của mẫu tiêu chuẩn tính theo đơn vị kgl/cm2. BT loại trung bình có mác 150 - 300; mác cao 400 - 500 và hơn nữa. Để chế tạo 1m3 BT loại thông thường cần dùng khoảng 0,8 - 0,9 m3 đá dăm hoặc sỏi, 0,42 - 0,43 m3 cát, 300 - 400 kg xi măng. Nước để trộn BT có hai tác dụng: một phần để hoá hợp với xi măng; một phần để tạo cho BT có độ nhão cần thiết lúc thi công; phần sau dễ bốc hơi, để lại các lỗ rỗng li ti làm giảm chất lượng BT. Để trộn 1 kg xi măng, thường dùng từ 0,4 - 0,7 lít nước trong đó chỉ có khoảng 0,2 lít tham gia vào phản ứng. BT được dùng rộng rãi trong mọi lĩnh vực xây dựng. BT được chia thành 5 loại: BT nghèo với lượng xi măng ít hơn bình thường, có mác chịu nén khoảng 20 - 50, thường dùng làm lớp lót, lớp đệm hoặc để độn. BT gạch vỡ là loại vật liệu tạo nên bằng cách trộn vữa với gạch vỡ, thường dùng làm lớp lót dưới móng công trình, làm nền cho sân bãi. BT nặng dùng các cốt liệu bằng cát, đá, sỏi thông thường, có khối lượng riêng từ 1,8 đến 2,5 t/m3. BT nhẹ dùng cốt liệu nhẹ (như đá xốp, kêramzit, vv.) có khối lượng riêng dưới 1,8 t/m3. BT bọt (BT xốp) là loại đặc biệt, không có cốt liệu đá, tạo nên những bọt khí nhỏ và phân đều trong thể tích, có khối lượng riêng dưới 1 t/m3, thường dùng làm lớp cách nhiệt cho tường và mái.


pd. Vôi trộn với cát, đá sạn hay đá cục nhỏ và xi-măng. Bê tông cốt sắt.