
doanh nghiệp do các thành viên cùng góp vốn, cùng chia lợi nhuận hoặc cùng chịu lỗ, tương ứng với phần góp vốn. Hiện nay, cũng có loại doanh nghiệp gọi là CT mà vốn đầu tư chỉ đơn thuần của nhà nước. CT là một thực thể về pháp luật, một pháp nhân khác biệt với những thể nhân hợp thành; được thành lập với các điều kiện theo quy định của pháp luật như có mục tiêu kinh doanh rõ ràng, có vốn, điều lệ phù hợp với quy mô và ngành nghề kinh doanh. Người quản lí điều hành hoạt động kinh doanh phải có trình độ chuyên môn tương ứng mà pháp luật đòi hỏi đối với một số ngành nghề. Trong khuôn khổ pháp luật, CT có quyền tự do kinh doanh và chủ động trong mọi hoạt động kinh doanh. Có nhiều loại hình CT kinh doanh (thương mại): có loại hùn vốn (cổ phần), trong đó cổ phần có thể được tự do nhượng lại và danh nghĩa của người hùn vốn không tồn tại; có loại CT hợp doanh, trong đó những phần đóng góp không được tự do nhượng lại và những thành viên chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn đối với tài sản chung của CT; có loại CT trách nhiệm hữu hạn là loại CT vừa có tính chất như CT cổ phần vừa có tính chất như CT hợp doanh. Về hình thức sở hữu, có các loại hình CT quốc doanh, CT tư nhân, CT hợp doanh giữa nhà nước và tư nhân hoặc giữa nhà nước, hợp tác xã và tư nhân. Luật Công ti của Việt Nam được ban hành (2.1.1991) quy định về CT trách nhiệm hữu hạn và CT cổ phần. Nhà nước công nhận sự tồn tại và phát triển của CT, thừa nhận sự bình đẳng trước pháp luật của CT với các doanh nghiệp khác và tính sinh lợi hợp pháp gắn với quá trình kinh doanh của CT. Quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, quyền thừa kế về vốn được nhà nước bảo hộ.