châm cứu

phương pháp điều trị vật lí cổ truyền. Sách về CC sớm nhất trên thế giới là cuốn "Linh khu" của Trung Quốc (thế kỉ 5 - 3 tCn.). Sách CC sớm nhất của Việt Nam là cuốn "Châm cứu tiệp hiệu diễn ca" (1401 - 07) của Nguyễn Đại Năng. Châm là dùng kim, cứu là dùng nhiệt của mồi ngải đốt cháy tác động lên huyệt hoặc vùng có liên quan đến chứng bệnh để điều khí (điều hoà chức năng) và giảm đau. Từ phương pháp CC cổ điển, y học đã phát triển thêm nhiều hình thức CC khác nhau về vị trí tác động, về yếu tố dùng để kích thích vào huyệt: 1) Châm ở thân thể (thể châm): phương pháp CC cổ điển tác động lên các huyệt nằm trên đường đi của 14 kinh mạch, huyệt ngoài kinh, huyệt A thị (điểm đau) có liên quan đến bệnh tật để phòng bệnh. 2) Châm loa tai (nhĩ châm): phương pháp CC tác động lên các vùng hoặc các điểm phản ứng của loa tai tương ứng với cơ quan hoặc bệnh tật đang có trong cơ thể để phòng bệnh và chữa bệnh. Bác sĩ Nogiê (P. Nogier) là người đầu tiên xây dựng sơ đồ về mối liên quan giữa loa tai và các bộ phận trong cơ thể. 3) Châm mặt (diện châm): phương pháp CC tác động lên các huyệt tương ứng với các cơ quan hoặc bệnh tật theo một sơ đồ về huyệt ở mặt, để phòng bệnh và chữa bệnh. 4) Châm mũi (tị châm): phương pháp CC tác động lên các huyệt ở mũi tương ứng với các cơ quan hoặc bệnh tật theo một sơ đồ về huyệt ở mũi, để phòng bệnh và chữa bệnh. 5) Châm đầu (đầu châm): phương pháp CC tác động lên các vùng ở da đầu (với giả thuyết các vùng đó là nơi xuất chiếu của các trung khu, các bộ phận của vỏ não) tương ứng với các cơ quan bị bệnh để chữa bệnh. Phương pháp này xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc vào những năm 50 thế kỉ 20. 6) Châm điện (điện châm; kích thích điện lên huyệt): phương pháp CC mới kết hợp nguyên lí và huyệt của CC với yếu tố điện thay kim, ngải để phòng bệnh và chữa bệnh. Thường dùng dòng điện một chiều hoặc xung điện với tần số thấp, điện thế thấp để kích thích vào huyệt qua kim đã được châm vào cơ thể, hoặc qua cực điện nhỏ đặt trực tiếp lên da vùng huyệt có liên quan đến bệnh tật. Phương pháp này xuất hiện vào những năm 50 thế kỉ 20 ở Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc và được ứng dụng ở Việt Nam 1960. 7) Tiêm vào huyệt (thuỷ châm, dược châm): phương pháp CC mới kết hợp nguyên lí và huyệt của CC với tiêm một dung dịch nào đó vào huyệt (nước cất, nước muối sinh lí, thuốc đặc hiệu, thuốc bổ) thay kim, ngải để phòng bệnh và chữa bệnh. Phương pháp này xuất hiện vào cuối những năm 50 thế kỉ 20 ở Trung Quốc và được nghiên cứu ở Việt Nam 1960. 8) Chôn chỉ (vùi chỉ catgut vào huyệt): phương pháp CC với vùi một loại protein lạ (catgut, filatôp nhau thai, vv.) vào huyệt thay kim, ngải để phòng bệnh và chữa bệnh. Phương pháp này xuất hiện vào những năm 60 thế kỉ 20 ở Trung Quốc để chữa một số bệnh mạn tính và nhất là di chứng bại liệt ở trẻ em. Được ứng dụng ở Việt Nam vào những năm 70 thế kỉ 20. 9) Châm từ (từ châm): phương pháp CC mới kết hợp nguyên lí và huyệt của CC với dán viên từ (nam châm) thay kim, ngải để phòng bệnh và chữa bệnh. Viên từ có nhiều loại to nhỏ khác nhau, thường dùng loại 500 - 100 gauxơ. Phương pháp này xuất hiện ở Nhật Bản vào những năm 70 thế kỉ 20. 10) Châm tê (châm chích ma tuý, châm gây tê để mổ): phương pháp vô cảm căn cứ trên tác dụng điều khí giảm đau của châm cứu để tiến hành mổ. Thường dùng kim châm vào huyệt có cảm ứng mạnh, nằm trên những đường kinh có liên quan đến nơi mổ rồi kích thích huyệt bằng vê kim liên tục bằng tay, hoặc bằng xung điện của máy phát xung chuyên dùng trong CC. Cần kích thích ít nhất 30 phút, kiểm tra da ở vùng mổ, thấy bệnh nhân không có phản ứng đau mới bắt đầu mổ. Phương pháp này có tác dụng nâng cao ngưỡng chịu đau của người bệnh, giúp họ chịu đựng được ca mổ an toàn ở trạng thái tỉnh. So với các phương pháp gây tê, gây mê, châm tê có ưu điểm: an toàn, ít gây rối loạn chức năng sinh lí, có thể giúp kiểm tra ngay kết quả của một số loại phẫu thuật; song có nhược điểm: còn đau ở một số bệnh nhân; ở một số thì mổ nhất định, trương lực cơ chỉ giảm nhẹ, phản ứng của nội tạng tương đối rõ rệt. Chỉ định tuyệt đối của phương pháp này là những trường hợp cần phải mổ nhưng không thể chịu được thuốc tê, thuốc mê do dị ứng với thuốc, do chức năng gan, thận, phổi kém hoặc do quá suy yếu. Chỉ định chung của châm tê tuỳ thuộc vào kinh nghiệm của phẫu thuật viên, của thầy thuốc châm tê gây mê hồi sức và điều trị mổ. Phương pháp này xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc năm 1958. Năm 1969, ở Việt Nam, Hoàng Đình Cầu đã mổ cắt phổi, thuỳ phổi (9 ca) với kíp châm tê của bác sĩ Trương Kim Du, bác sĩ Bùi Quang Hiền và cộng sự. Thế giới quan tâm, tranh luận và tìm hiểu cơ chế của châm tê vào đầu những năm 70 thế kỉ 20. Vào những năm 80, Nguyễn Tài Thu đã đạt một số thành tựu châm tê trong phẫu thuật.11) Gõ kim hoa mai (mai hoa châm, thất tinh châm, liệu pháp kích thích thần kinh, liệu pháp gõ kim): phương pháp này là sự phát triển trên cơ sở phương pháp châm nông cổ điển. Nếu trước kia dùng một cây kim kích thích nông ở da thì nay dùng một bó kim (5 kim xếp như cánh hoa mai, 7 kim xếp như sao bảy cánh) cá biệt có người dùng nhiều kim hơn gõ vào da. Có ba cách gõ khác nhau: gõ dọc hai bên cột sống theo lí thuyết thần kinh (liệu pháp kích thích thần kinh - tài liệu của Tôn Huệ Khanh, 1958), kích thích vào huyệt (tài liệu thất tinh châm, vv.), kích thích vào đường kinh (Viện Y học Cổ truyền Việt Nam, 1969). 12) Ryôđôraku (Ryodoraku; tên khác: Lương Đạo Lộ): phương pháp CC mới kết hợp nguyên lí và huyệt của CC với máy đo lượng thông điện ở các huyệt Nguyên của 12 kinh chính ở chân tay. Trong trạng thái bình thường, lượng thông điện của huyệt Nguyên của hai kinh phải trái cùng tên xấp xỉ bằng nhau. Nếu lượng thông điện một bên cao hơn gấp đôi trở lên so với bên kia thì bên cao thể hiện chứng thực, bên thấp thể hiện trạng thái hư, vv. Lượng thông điện của huyệt Thái uyên bên phải (kinh phế) là 25 A, của bên trái là 10 A, thì kinh phế bên phải thực, bên trái hư. Lấy kim châm vào hai huyệt đại diện cho phế (vd. Phế du phải và Phế du trái), bên phải là thực thì dùng phép châm tả, bên trái là hư thì dùng phép châm bổ. Sau khi châm xong, rút kim đo lại lượng thông điện ở 24 huyệt Nguyên thường thấy sự cân bằng giữa hai bên phải trái đã được lập lại. Phương pháp này xuất hiện ở Nhật Bản năm 1956.


hdg. Châm kim và đốt nóng ở các huyệt trên da để trị bệnh theo y học cổ truyền.

châm cứu

châm cứu
  • Acupuncture and ignipuncture; acupuncture
    • điều trị bằng châm cứu: to treat by acupuncture (and ignipuncture)

Lĩnh vực: y học
 acupressure
 acupuncture
  • kim châm cứu: acupuncture needle

  • nam châm cứu kẹt
     fishing magnet