
cá thể dị hợp tử xuất hiện do lai hai bố mẹ khác nhau về mặt di truyền. Đa số các cá thể trong quần thể ngoại phối có thể gọi là CL. CL chủ yếu dùng trong thực tiễn chọn giống là những CL di truyền xuất hiện do sự kết hợp của những giao tử mang các nhiễm sắc thể tương đồng nhưng khác biệt nhau về một hay nhiều cặp gen alen và những CL đa bội mà trong bộ nhiễm sắc thể của chúng có sự kết hợp của nhiều hệ gen thuộc những loài khác. Nếu các loài khác nhau cho lai với nhau thì CL bất thụ, vd. la là CL của ngựa và lừa. La bị bất thụ là do không có sự bắt cặp của các nhiễm sắc thể trong quá trình giảm phân. Ở thực vật, có thể khắc phục hiện tượng đó bằng cách nhân đôi số nhiễm sắc thể tương đồng.
CL hai tính là CL dị hợp tử ở hai gen, nhận được do bố mẹ đồng hợp tử về những alen khác nhau ở hai gen đó. Vd. phép lai của Menđen (J. G. Mendel) giữa đậu hạt vàng nhẵn (YYRR) và hạt xanh nhăn (yyrr) cho CL hai tính vàng nhẵn (YyRr). Khi CL hai tính tự phối, tỉ lệ nhận được ở thế hệ con phân li hai tính đặc trưng là 9 : 3 : 3 : 1. Theo tỉ lệ trên thì có 9 phần CL thể hiện cả hai tính trạng trội, 6 phần thể hiện một tính trạng trội và một tính trạng lặn và 1 phần thể hiện cả hai tính trạng lặn. CL một tính là CL dị hợp tử ở một gen và thu được do hai bố mẹ đồng hợp tử với những alen khác nhau ở gen đó. Vd. thí nghiệm lai đậu Hà Lan cao (TT) và thấp (tt) cho ra CL một tính cao (Tt). Khi chúng tự phối thì các phenotip trội và lặn xuất hiện ở đời con với tỉ lệ 3 : 1 (tỉ lệ phân li của CL một tính).
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|