
- (dân tộc) Tên gọi của một trong số 54 dân tộc anh em sống trên lãnh thổ Việt Nam (x. Phụ lục)
- (tiếng) Ngôn ngữ của dân tộc Giáy
tên tự gọi, người Tày và người Thái gọi họ là Giàng. Dân số 49.098 (1999), cư trú ở các huyện Bát Xát, Mường Khương, Bảo Yên, (Lào Cai, Yên Bái), Yên Minh, Đồng Văn (Hà Giang), Mường Tè, Phong Thổ (Lai Châu), Bảo Lạc (Cao Bằng), đến chỗ ở hiện nay từ 150 đến 200 năm. Ngôn ngữ thuộc nhóm Tày - Thái. Người G chủ yếu làm ruộng nước, làm thêm nương rẫy. Trong chăn nuôi, trâu bò được đuổi vào khu núi đã rào kín, hoặc chăn dắt chu đáo, chăm sóc ngựa cẩn thận dùng để cưỡi và thồ. Nhiều nơi ở nhà sàn như người Tày và Thái, nhiều nơi ở nhà đất. Áo truyền thống phụ nữ xẻ nách, che kín mông, tay rộng, cổ áo có đáp vải màu; váy kín, xếp nếp, xoè rộng, nhiều nơi phụ nữ mặc quần. Đồng bào thường hát làn điệu dân ca "Nàng ơi" rất nổi tiếng. Dân tộc G đang làm giàu cho văn hoá của mình bằng cách tiếp thu có chọn lọc một số yếu tố văn hoá lành mạnh của các dân tộc anh em cùng chung sống, như của người Tày ở Bảo Thắng, Bát Xát, Bảo Lạc, Yên Minh; của người Nùng ở Bảo Yên, Mường Khương; của người Thái ở Mường Tè, Phong Thổ. Trước đây, đồng bào dùng chữ Hán âm Quảng Đông và chữ Nôm ghi chép các bài cúng và thơ ca.