chất nhớt dính đã khô cứng ngoài không khí, có thành phần hoá học là các cacbon hiđrat thiên nhiên, tan được trong nước, lấy từ vỏ một số loài cây. G thực vật khác với nhựa thực vật, cũng do thực vật tiết ra nhưng có thành phần hoá học khác, không tan trong nước.
Trong y dược học, thường dùng G arabic (cg. G Xênêgan, G Châu Phi) làm chất ổn định các thuốc pha chế dưới dạng dịch treo. G arabic trích từ vỏ thân, cành của cây keo (Acacia senegal) và một số loài Acacia khác có nguồn gốc ở Châu Phi (Xuđăng, Nigiêria, Tuynidi, vv.). G arabic là G đã để khô ở ngoài không khí, màu vàng nhạt, dạng hạt giòn dễ vỡ, hoặc dạng bột nghiền nhỏ, tan hoàn toàn nhưng chậm trong nước, cho dung dịch trong suốt; không tan trong cồn, ete; tương kị với một số hoá chất như borac, cresol, phenol, mocphin, vv. G của các loài Acacia có chứa men oxi hoá dễ làm hỏng thuốc pha chế, cần đun nhanh dung dịch G ở 100oC để phá huỷ men. Trong y dược học, còn dùng G adraganth hay G tragacanth (nhựa khô trích từ vỏ thân cây Astragalus gummifer và một số loài Astragalus khác thuộc họ Iespminosae) tan không hoàn toàn trong nước, cho dung dịch keo đục nhờ, tuỳ theo đậm độ, dùng làm tác nhân nhũ hoá và ổn định dung dịch keo.