
- 1 dt Điệu dân ca của ta thường hát trong lúc lao động: Bài hò giã gạo.
- đgt Cất lên câu : Bên nam hò trước, bên nữ hò sau.
- 2 dt Đường mép vạt áo dài từ cổ đến nách: Thương trò may áo cho trò, thiếu bâu, thiếu vải, thiếu hò, thiếu đinh (cd).
- 3 đgt 1. Gọi to: Gọi như hò đò (tng) 2. Rủ nhau; Động viên nhau: Già trẻ, lớn bé hò nhau ra đồng (NgKhải).
- 4 đgt Đòi hỏi (thtục): Mấy cậu ấy đến để hò ăn.
những điệu dân ca trong lao động, đặc biệt có đoạn nhiều người cùng hoà theo. Phổ biến ở Trung Bộ và Nam Bộ. Thanh Hoá có H Sông Mã, một loại H chèo đò gồm H đò ngược (cg. H chống sào), H đò xuôi, H mắc cạn, H cập bến. Bình Trị Thiên có H mái nhì, H mái đẩy; nội dung thường là những câu giao duyên, hò hẹn, thương nhớ, trách móc. Trên cạn có H giã gạo; H khoan, H đâm vôi, H mái ô (gọi tắt: hò ô); nội dung ngoài những câu hát huê tình còn có những câu châm chọc, chế giễu bạn tình. Nam Bộ là xứ có nhiều sông ngòi, kênh rạch, nghề sông nước phát triển, mỗi tỉnh có một loại H với sắc thái riêng, nội dung gần như nhau, như H Đồng Tháp, H Bến Tre, H Trà Vinh, H Tân An, H Rạch Giá, H Gò Công... Trên cạn có H xay lúa, H cấy lúa. Trong thời kì Kháng chiến chống Pháp, ở Miền Bắc, trong quân đội và dân công, phổ biến nhất là điệu H lơ, hò lờ có tính chất tập thể, vốn là một điệu H từ Nam Bộ truyền ra.