hệ thống điện

tập hợp các nhà máy điện và các hộ tiêu thụ được nối với nhau bằng các đường dây tải điện và trạm biến áp. So với việc cấp điện bằng nhà máy điện độc lập thì việc nối các nhà máy và hộ tiêu thụ thành hệ thống có nhiều ưu điểm lớn: tăng cường độ tin cậy của việc cấp điện, sử dụng tốt hơn nguồn năng lượng sơ cấp của từng địa phương, tạo khả năng sử dụng các thiết bị có công suất đơn vị lớn hơn, giảm công suất dự phòng, giảm được giá thành điện năng do phân bố phụ tải hợp lí hơn giữa các nhà máy điện. Các HTĐ hiện đại được tự động hoá cao và được điều khiển từ một hệ thống các trung tâm điều độ theo các mức lãnh thổ khác nhau. Ở Việt Nam, từ cuối 1994 khi đưa hệ thống tải điện 500 kV Bắc - Trung - Nam vào vận hành, lưới điện trước đây vận hành riêng lẻ ở cả ba miền được hợp nhất thành hệ thống điện quốc gia với trung tâm điều độ đặt tại Hà Nội. Tính đến cuối 1999, trong HTĐ Việt Nam có 15 nhà máy điện với công suất đặt từ 30 MW trở lên, trong đó Nhà máy Thủy điện Hòa Bình có công suất lớn nhất (1.920 MW), tổng công suất đặt của các nhà máy điện trong HTĐ là 5.559 MW. Các cấp điện áp được sử dụng trong HTĐ Việt Nam là 0,4-6-10-15-22-35-66-110-220 và 500 kV. Trong năm1999, tổng điện năng sản xuất khoảng 23 tỉ kW.h, trong đó khoảng 60% từ các nhà máy thủy điện, 16,5% từ các nhà máy nhiệt điện và 17% từ các tuabin khí; tất cả các tỉnh với khoảng 71% dân số toàn quốc được sử dụng điện từ HTĐ quốc gia.