
- Tên gọi một nhóm nhỏ của dân tộc Thổ
- 1 dt 1. Khối người cùng tổ tiên, cùng dòng máu: Thấy người sang bắt quàng làm họ (tng) 2. Nhóm sinh vật cùng một bộ và gồm nhiều chi khác nhau: Cây lúa, cây ngô, cây mía thuộc họ hoà bản.
- tt Có quan hệ cùng dòng máu: Anh em .
- 2 dt Tổ chức góp tiền, góp gạo từng tháng để người nào cần trước thì lấy trước cả số tiền chung: Các bà bán hàng hay chơi họ với nhau để cho khi cần, ai cũng có vốn được (HgĐThuý).
- 3 đt Đại từ ngôi thứ ba về số nhiều thường chỉ những người mà mình không kính trọng: Những anh ấy cứ tưởng là họ hơn hẳn mọi người.
- 4 tht Tiếng người đi cày dùng để bảo trâu dừng lại: Sáng tai họ; điếc tai cày (tng).
(familia), đơn vị phân loại gồm các chi (giống) hoặc nhóm đơn vị phát sinh và tách biệt bởi sự ngắt quãng rõ ràng, độ lớn ngắt quãng tỉ lệ nghịch với độ lớn của H. H có thể chia ra phân H. Sau các H của thực vật có tận cùng tiếng Latinh eae hoặc ae; động vật - idae. Vd. họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Hoa tán (Umbelliferae), họ Mèo (Felidae), họ Chó (Canidae), họ Cá chép (Cyprinidae). Thường được phân biệt bởi các dấu hiệu thích nghi, vùng thích nghi, tương quan của nó với sinh cảnh hoặc vùng thích nghi.
một thiết chế xã hội cổ truyền, bao gồm nhiều gia đình cùng huyết thống, xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử các dân tộc Việt Nam. Vì điều kiện lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội và tập quán khác nhau, nên H ở các dân tộc không hoàn toàn giống nhau. Trừ một ít dân tộc theo H mẹ (các dân tộc nói ngôn ngữ Nam Đảo), còn hầu hết các dân tộc đều theo H bố. Mỗi H có một vị thuỷ tổ chung, gọi là thần chủ tổ tiên của H. Một ít trường hợp sống tập trung; đa số H có các gia đình cư trú xen kẽ với các gia đình thuộc các H khác trong xóm làng. H không phải là một đơn vị kinh tế (đơn vị kinh tế trong H là các hộ gia đình); tuy nhiên nhiều H có phần ruộng hương hoả, gọi là ruộng kị để phục vụ cho việc cúng lễ hằng năm của H. Người trong một H không được lấy nhau, trừ trường hợp cá biệt như dòng H tôn thất đời Trần, có tập tục hôn nhân nội tộc (nội hôn) để giữ ngôi vua cho dòng họ. Người trong một H có nghĩa vụ đoàn kết tương trợ và thờ cúng tổ tiên. Mỗi H có nhiều chi (cg. phái); H có người trưởng họ; ở Miền Bắc, đó là người con trưởng của chi trưởng (hay gọi là trưởng phái). Con trưởng chết thì con thứ chi trưởng thay. Chi trưởng không còn nam giới thì con trưởng chi thứ làm trưởng H. Ở Miền Nam, trưởng H không nhất thiết là người con trưởng của chi trưởng như ở Miền Bắc, mà có thể là người lớn tuổi, lại có thể là người đạo cao đức trọng, có địa vị lớn trong xã hội. Mỗi H có một nhà thờ H chung gọi là từ đường, thờ thuỷ tổ H, hằng năm cúng lễ. Mỗi H lớn có nhiều chi, mỗi chi có từ đường riêng của chi. Có một số H không có từ đường. Người ta dựng đài lộ thiên, dựng bia đá, ghi tên..., hàng năm đến tế lễ. Mỗi H thường có tộc phả, ghi chép lịch sử và truyền thống dòng H. Hiện nay, nhiều nơi ở Việt Nam đang có phong trào phục hồi việc xây dựng tộc phả để giáo dục truyền thống tốt đẹp của dòng H cho con cháu.
bao gồm: họ, hụi, biêu, phường
Nguồn: 144/2006/NĐ-CP