hội đồng nhân dân

tổ chức thuộc hệ thống chính quyền nhà nước ở các địa phương trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Được thành lập sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở 3 cấp hành chính: tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi tắt là cấp tỉnh); huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi tắt là cấp huyện); xã, phương, thị trấn trực thuộc cấp huyện (gọi tắt là cấp xã); theo Sắc lệnh số 63/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ngày 22.11.1945 và được quy định trong các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 của Nhà nước Việt Nam.

Theo Hiến pháp năm 1992: HĐND có vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. HĐND có nhiệm vụ: căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách; về quốc phòng, an ninh ở địa phương; về biện pháp ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho, làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước. HĐND bầu ra uỷ ban nhân dân, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND.

Việc thành lập HĐND và uỷ ban nhân dân theo kết quả của các cuộc bầu cử HĐND ở các đơn vị hành chính địa phương do luật định, với nhiệm kì 5 năm một lần.


nd. Cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân bầu ra.

"Cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh hiến pháp và pháp luật ở địa phương; về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách; về quốc phòng và an ninh ở địa phương; về biện pháp ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho, làm tròn nghĩa vụ đối với đất nước. Thành viên của hội đồng nhân dân là đại biểu hội đồng nhân dân và thể thức bầu cử đại biểu các cấp do Luật bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân quy định. Hội đồng nhân dân bầu ra ủy ban nhân dân. Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương chịu trách nhiệm chấp hành pháp luật, các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của hội đồng nhân dân. Nhiệm kì của mỗi khóa hội đồng nhân dân là 5 năm. Hiệu quả hoạt động của hội đồng nhân dân được bảo đảm bằng hiệu quả của các kì họp hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, các ban của hội đồng nhân dân và của đại biểu hội đồng nhân dân. Hội đồng nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính sau đây: - Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. - Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. - Xã, phường, thị trấn"

Nguồn: Từ điển Luật học trang 221