
(tên thật: Phạm Huy Thông; 1916-88), nhà thơ, nhà nghiên cứu khoa học xã hội, nhà hoạt động chính trị và xã hội Việt Nam. Quê Đào Xá, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Con một nhà kinh doanh lớn ở phố Hàng Bạc, Hà Nội. Khi chưa tròn 20 tuổi, là một trong những người đầu tiên đề xướng phong trào "Thơ Mới" với các sáng tác về đề tài lịch sử: "Tiếng địch sông Ô", "Huyền Trân công chúa", "Tần Hồng Châu", "Kinh Kha" mang tính anh hùng ca. Năm 1937, sau khi đã đỗ cử nhân luật, sang Pháp học, đỗ tiến sĩ luật, tiến sĩ văn chương và thạc sĩ sử, địa. Gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Được cử làm thư kí riêng của chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người sang thăm chính thức nước Pháp năm 1946. Do hoạt động chính trị, bị trục xuất về nước và bị bắt giam. Tham gia đấu tranh trong tù. Cùng với luật sư Nguyễn Hữu Thọ và nhiều nhà trí thức khác thành lập Phong trào Hoà bình Sài Gòn - Chợ Lớn. Sau khi được giải thoát, nhận nhiệm vụ hiệu trưởng Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội. Trong 10 năm, ông đã góp phần quan trọng trong việc đào tạo cán bộ cho ngành sư phạm. Từ 1968 đến 1988, là viện trưởng đầu tiên Viện Khảo cổ học. Đã huy động được một lực lượng đông đảo các nhà khảo cổ học và ngành khoa học có liên quan tập trung nghiên cứu thời kì Hùng Vương (xt. Hùng Vương). Ông đã có những đóng góp to lớn trong việc xây dựng và trưởng thành của ngành Khảo cổ học Việt Nam.
Cùng với hoạt động khoa học, ông còn tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội: phó chủ tịch Uỷ ban Bảo vệ Hoà Bình thế giới của Việt Nam, chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, phó chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, uỷ viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại biểu Quốc hội khoá II và khoá III.
Ông được bầu làm viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Cộng hoà Dân chủ Đức và được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học xã hội và nhân văn (2000).