
khái niệm xuất hiện ở Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, chỉ chung hai loại kịch hát truyền thống là chèo và tuồng, cùng tất cả các loại hình kịch hát khác ra đời đầu thế kỉ 20 theo phương pháp sáng tạo của nghệ thuật chèo và tuồng, như các nghệ thuật: cải lương, ca kịch Huế, ca kịch bài chòi, ca kịch Nghệ Tĩnh, vv. KHDT thuộc loại sân khấu tự sự (kể chuyện), phương tiện biểu hiện bao gồm từ lời nói thường, nói lối đến ngâm vịnh, ca hát; từ động tác thường đến cách điệu và múa phối hợp hài hoà với nhau. Hát và múa phát triển từ dân ca, dân vũ đã tạo nên màu sắc dân tộc đậm đà, phong phú, đa dạng trong KHDT. KHDT chiếm trên 80% số đơn vị hoạt động sân khấu; là bộ phận chủ yếu làm nên bề dày của nền nghệ thuật sân khấu Việt Nam.