
- d. Một trong ba thể của vật chất, nhẹ, trong suốt, không hình dạng, ở trạng thái dễ nén và có thể choán tát cả không gian dành cho nó : Khí các- bô-ních. Khí lý tưởng. (lý). Chất khí phải tuyệt đối nghiệm đúng mọi định luật chi phối các quá trình biến hóa về thể tích, áp suất, nhiệt độ và, như vậy, chỉ có trong lý thuyết.
- d. X. Tinh dịch.
- ph. Hơi hơi : Canh nấu khí mặn.
(y), thuật ngữ của y học cổ truyền chỉ các tinh vi vật chất của dinh dưỡng, lưu động trong cơ thể như các K của thuỷ cốc; năng lực hoạt động của tổ chức tạng phủ như K của ngũ tạng (tâm, can, tì, phế, thận), K của lục phủ (tiểu tràng, đởm, vị, đại tràng, bàng quang, tam tiêu), K của kinh mạch. Thường chia ra: chân khí hay chính khí, bao gồm K tiên thiên (thụ bẩm nguyên khí của trời đất) và K hậu thiên (nhờ hô hấp và ăn uống) để nuôi dưỡng cơ thể. Nguyên K bao gồm K của nguyên âm và K của nguyên dương, do tiên thiên sinh hoá dựa vào sự dinh dưỡng thường xuyên, phát nguồn ở thận (gồm cả mệnh môn), qua tam tiêu mà chan hoà khắp toàn cơ thể.
vật chất ở trạng thái mà động năng của các hạt (phân tử, nguyên tử, ion) lớn hơn thế năng tương tác giữa chúng một cách đáng kể, do đó các hạt có thể chuyển động tương đối tự do và có khả năng chiếm toàn bộ thể tích của bình chứa. Trong vật lí học hiện đại, khái niệm K được mở rộng cho cả các tập hợp các hạt và chuẩn hạt trong chất rắn và các đối tượng vật lí khác, vd. khí điện tử, khí phonon, vv. Xt. Chất khí.
phạm trù triết học của Trung Quốc cổ đại. Nghiã ban đầu chỉ thể khí (hơi), như hơi nước, hơi sương, hơi thở. Vật rắn, vật lỏng đều do thể K tụ lại mà thành. K là tài liệu nguyên thuỷ của mọi vật, nó đầy rẫy trong không gian và có tính năng động, có sức bốc lên (chữ Hán, K vẽ tượng hình 3 làn hơi bốc lên). Thoạt tiên, K là âm, dương. Mạnh Tử phân biệt K với chí, nói "giữ vững chí, đừng làm tổn hại đến K", lại nói "khéo nuôi cái khí hạo nhiên" đầy ắp trong con người và cả trong trời đất. Quản Tử nêu ra tinh khí là thứ K tinh tế nhất. Trang Tử phân biệt K với tâm.
Tóm lại đặc điểm của K: 1. Có thực, không phải là không hay hư vô, 2. không phải là hình, nhưng là gốc của hình, 3. không phải là tâm, mà là mặt đối với tâm. Như vậy, K là tài liệu nguyên thủy cấu thành mọi vật hữu hình; K là phạm trù chỉ tồn tại vật chất. Trong thời phong kiến, từ Hán trở về sau, nội dung cơ bản của phạm trù K không đổi. Như nói: "Trời đất hợp K lại, vạn vật tự sinh" (Vương Sung); "Thái hư không thể không có K, K không thể không tụ lại mà thành vạn vật", K biến hoá theo quy luật nhất định là lí (Trương Tải). Chu Hy, nhà lí học đời Tống nói "Trong khoảng trời đất, có lí, có khí"; tuy cho rằng lí có trước K nhưng cũng chấp nhận K tức là âm dương ngũ hành, hợp lại với nhau thành tài liệu sinh ra vạn vật. Vương Phu Chi cho K là thực tại duy nhất: "Cái chứa trong trời đất, chỉ có K mà thôi".
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|