phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ, vv.) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất. Ở Việt Nam, trong nền kinh tế tự cấp tự túc dưới chế độ phong kiến, và ngay trong những năm đầu của thời kì quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, còn phần lớn là theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu và theo chế độ bao cấp thì thực chất không có hoạt động KD, hoặc quan niệm KD còn giản đơn, hình thức chủ nghĩa. Khi sản xuất hàng hoá chưa mang tính phổ biến, KD còn bị hạn chế trong phạm vi và quy mô nhỏ và ở trình độ thấp. Dưới chủ nghĩa tư bản, sản xuất hàng hoá có tính phổ biến và phát triển cao, KD trở thành phương thức hoạt động phổ biến. Dưới chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế cũng là kinh tế hàng hoá có kế hoạch vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lí của nhà nước, KD cũng là hoạt động kinh tế mang tính nguyên tắc và phổ biến. KD xã hội chủ nghĩa phải bảo đảm có lãi, nhưng không phải hoạt động tự phát theo thị trường tự do và đơn thuần chạy theo lợi nhuận; nó hoạt động có kế hoạch và theo chế độ hạch toán kinh tế, vì lợi ích của bản thân doanh nghiệp và lợi ích của toàn xã hội. Nhà nước xã hội chủ nghĩa rất coi trọng quản lí theo phương thức; nhưng mục đích và phương thức của chủ nghĩa xã hội khác hẳn với chủ nghĩa tư bản; nhà nước thực hiện sự quản lí nhà nước thông qua sự tác động bằng kế hoạch, bằng các chính sách vĩ mô và pháp luật để bảo đảm các đơn vị kinh doanh và nền kinh tế, xã hội phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.