lễ hỏi

- X. Hỏi, ngh. 4.


lễ chính được tiến hành sau lễ dạm. Sau khi được gia đình nhà gái hứa hôn thì nhà trai đến thăm nhà gái, cùng nhau thảo luận, chọn ngày giờ làm LH, cũng gọi là lễ đính hôn, tương đương với lễ nạp trưng hay lễ nạp tệ cũ. Đoàn nhà trai gồm có: ông bà chủ hôn, cha mẹ chú rể, chú rể, người phụ rể (nếu có), một số người thân thuộc. Lễ vật ăn hỏi trước đây gồm có: một khay trầu rượu phủ khăn đỏ, một cặp quả hộp phủ khăn đỏ, các mâm đựng cau trầu, rượu, chè, các thứ bánh (cốm, gai, giầy...). Trước khi đem lễ vật ăn hỏi đến nhà gái, nhà trai làm lễ cáo với tổ tiên gia đình nhà mình. Đến giờ ước định, họ nhà trai tạm đứng ngoài ngõ, cử người đại diện vào trình bày, khi nhà gái cử người ra rước thì đoàn nhà trai mới vào nhà gái, theo thứ tự lễ vật được mang đi trước, tiếp theo người chủ hôn, rồi họ nhà trai, chú rể và phụ rể đi sau cùng. Sau khi nhà gái nhận lễ vật, cúng cáo gia tiên, và tuyên bố chấp nhận lời hứa hôn, thì tiến hành nghi lễ đeo nhẫn cho cô dâu và chú rể. Cuối cùng, nhà gái chiêu đãi đoàn nhà trai. Các lễ vật ăn hỏi, nhà gái giành lại cho nhà trai một phần gọi là "lại quả", số còn lại đem chia cho họ hàng. Trước kia sau lễ hỏi là lệ sêu, nghĩa là mùa nào phẩm vật ấy, nhà trai phải mang đến tết nhà gái vào những ngày lễ tiết. Sau lễ hỏi một thời gian (trước đây là một năm trở lên) là đến lễ cưới.

Ngày nay, LH được tổ chức đơn giản hơn. Số người tham gia đoàn nhà trai không đông, lễ vật thường gồm một ít cau trầu, chè búp, hạt sen. Thời gian từ LH đến lễ cưới cũng được rút ngắn lại.