(nông, sinh, y; Sus; tk. lợn nhà, heo), chi động vật có vú, móng guốc chẵn, không nhai lại, họ Lợn (Suidae). L nhà bắt nguồn từ 3 dòng Lợn rừng: L lòi Đông Nam Á (S. scrofa vitatus), L lòi Địa Trung Hải (S.scrofa mediterraneus) và L lòi Trung Âu, Trung Á (S. scrofa scrofa). Cả 3 dòng này đều xuất phát từ một loài Sus scrofa, phân bố từ Đông Nam Á sang Tây Âu. Những giống L nuôi hiện nay đều có nguồn gốc từ 3 dòng trên và là sản phẩm hỗn giao từ 3 dòng đó. L được thuần hoá vào khoảng 4900 - 4000 năm tCn., ở nhiều vùng địa lí, trước hết là ở Đông Nam Á (Trung Quốc) và Châu Âu (vùng Địa Trung Hải, biển Bantich, Ukraina). Trong quá trình thuần dưỡng và gây giống lâu dài, ngoại hình và sức sản xuất của L thay đổi nhiều; song ở các giống L nuôi vẫn còn tồn tại những đặc điểm sinh học chung của chi Sus: thị giác kém, thính giác nhạy, khứu giác tinh, thể chất thô nặng. Mõm hơi dài, đầu mõm ngắn và linh hoạt, để ủi đất kiếm thức ăn. Răng: 44 cái, trong đó có 12 răng cửa, 4 răng nanh phát triển và 28 răng rộng. Tứ chi có 4 ngón. Vú xếp thành hai hàng song song ở mặt bụng. Lông thưa và thô. Dạ dày đơn, 1 túi. L ăn tạp: các loại hạt, củ quả, cỏ non, thức ăn ủ xanh, cám bã.. L là loài vật nuôi thành thục sớm và mắn đẻ, 4 - 5 tháng tuổi đã thành thục về sinh dục. Cứ 18 - 22 ngày lại động hớn một lần. Chửa 112 - 114 ngày. Khả năng đẻ 2 - 2,5 lứa mỗi năm. Mỗi lứa trung bình 8 - 10 con, mỗi con sơ sinh nặng 1,2 - 1,3 kg. Như vậy một L nái có thể sinh sản mỗi năm ra 2 - 3 tấn L hơi, tiêu tốn thức ăn cho mỗi kilôgam tăng trọng ít hơn so với bò, cừu. Lượng thịt xẻ chiếm 70 - 80 % trọng lượng sống. Chất lượng sản phẩm, độ lớn về ngoại hình các giống L khác nhau rất nhiều. Theo hướng sản xuất, L được chia làm 3 nhóm (kiểu): L thịt, L thịt pha mỡ và L mỡ. Thịt và mỡ L được chế biến thành thịt muối, thịt muối và xông khói, giăm bông, xúc xích, lạp sườn, mỡ nước..., da, lông L được chế biến công nghiệp; lòng tiết L cũng được chế biến làm thức ăn chăn nuôi. Mật L được chế biến rồi làm khô, có chứa các muối của axit hiocholic, axit hiodesoxicholic, axit glicochenođezoxicholic, colesteron, các sắc tố mật. Mật L được dùng để chữa ho gà và một số bệnh đường gan, mật.
Ở Việt Nam, nghề nuôi L phát triển, và có nhiều điều kiện thuận lợi. Trong những năm qua, ngành nuôi L ở Việt Nam đã có nhiều cải tiến: dùng các giống L địa phương cải tiến, nhập L ngoại [Đại bạch, Lanđrat (Landraxe), Đurôc (Duroc)...] và lai giống, chăn nuôi theo khẩu phần, phòng trừ dịch bệnh, vv.