
việc hai vợ chồng bỏ quan hệ vợ chồng chính thức, vì những nguyên nhân nào đó mà không đạt được mục đích hôn nhân. Việc LH có thể xảy ra ở 2 thời kì: sau khi dạm hỏi (trước lúc cưới), và sau lúc cưới khi hai vợ chồng đã ăn ở với nhau một thời gian, thậm chí sau khi đã sinh con cái.
Trước 1945, vợ chồng muốn li dị phải trình làng, làng xử không được phải đến cửa quan (quan huyện, quan phủ). Đàn ông muốn bỏ vợ phải viết tờ li dị. Vợ cầm giấy ấy trình làng, trình quan xong mới được đi lấy chồng khác. Từ 1945 đến nay, vợ chồng LH phải được toà án xét xử. Thông thường toà án hoà giải; hoà giải không được mới quyết định cho LH. Muốn xây dựng lại gia đình phải có quyết định của toà án cho phép LH trước đó. LH là hiện tượng phổ biến ở các dân tộc trên thế giới. Dưới các chế độ phụ quyền, đặc biệt xã hội phong kiến gia trưởng phương Đông, với tư tưởng trọng nam khinh nữ, trong LH nữ giới cũng chịu nhiều thiệt thòi hơn nam giới. Đối với nhiều dân tộc thiểu số nước ta, tập tục đòi trả của rất nặng nề, nên nữ giới muốn LH để xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc hơn cũng không dễ thực hiện được. Trong các xã hội hiện đại, tỉ lệ LH rất cao, do đó ảnh hưởng đến việc chăm sóc giáo dục con cái. Các quốc gia trên thế giới đều có văn bản pháp quy, quy định việc LH. Ở Việt Nam trước đây, luật Hồng Đức và luật Gia Long cũng có quy định về vấn đề này. Từ sau 1945, Nhà nước Việt Nam, trong Luật hôn nhân và gia đình cũng có quy định chặt chẽ vấn đề LH (ở chương VII, từ điều 40 đến điều 45).
Sự chấm dứt quan hệ hôn nhân, do tòa án công nhận hoặc quyết định. Vợ hoặc chồng có thể xin li hôn. Tuy nhiên, nếu vợ đang có thai thì chồng chỉ có thể xin li hôn sau khi vợ đã sinh con được 1 năm. Điều hạn chế này không áp dụng đối với việc xin li hôn của người vợ (Điều 41 – Luật hôn nhân và gia đình ngày 2.12.1986). Trong trường hợp cả hai vợ chồng xin li hôn, nếu hòa giải không thành và thấy rằng hai bên không còn tình yêu đối với nhau nữa, thì tòa án công nhận thuận tình li hôn. Trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng xin li hôn, nếu hòa giải không thành thì tòa xét xử. Nếu thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không bảo đảm thì tòa án xử cho li hôn. Khi li hôn, việc chia tài sản do hai bên thỏa thuận và phải được tòa án công nhận. Nếu hai bên không thỏa thuận được thì tòa án quyết định. Về nguyên tắc, việc chia tài sản khi li hôn phải theo những quy định sau đây: - Tài sản riêng của bên nào thì vẫn thuộc quyền sở hữu của bên ấy. - Tài sản của vợ chồng được chia đôi nhưng có xem xét một cách hợp lí đến tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên. - Trong trường hợp vợ chồng còn sống chung với gia đình mà tài sản của bản thân vợ chồng không xác định đượ c thì vợ hoặc chồng được chia một phần tài sản trong số tài sản chung của gia đình, căn cứ vào công sức của người được chia đóng góp vào việc duy trì khối tài sản chung, cũng như vào đời sống chung của gia đình. Lao động trong gia đình được coi như lao động sản xuất. - Khi chia tài sản, phải bảo vệ quyền lợi của người vợ và con chưa thành niên, bảo vệ lợi ích chính đáng của sản xuất và nghề nghiệp. Khi li hôn, nếu bên túng thiếu yêu cầu cấp dưỡng thì bên kia phải cấp dưỡng theo khả năng của mình. Vợ chồng đã li hôn vẫn có mọi nghĩa vụ và quyền lợi đối với con chung. Việc giao con chưa thành niên cho ai nuôi dưỡng, trông nom, giáo dục phải căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Về nguyên tắc, con còn bú được giao cho người mẹ nuôi giữ, người không nuôi giữ con có nghĩa vụ và quyền thăm nom, chăm sóc con và đóng góp phí tổn nuôi dưỡng.
Nguồn: Từ điển Luật học trang 275