
toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền (quốc hội) quyết định và thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. NSNN là kế hoạch tài chính cơ bản của nhà nước trong hệ thống tài chính quốc gia để phát triển kinh tế - xã hội và duy trì bộ máy quản lí nhà nước. Trước chủ nghĩa tư bản, NSNN chưa lớn và chưa có ý nghĩa kinh tế quan trọng; nguồn tài chính chưa nhiều và chưa phức tạp, đồng thời các khoản chi từ nguồn này cũng còn đơn giản, ngân sách còn mang tính độc đoán của cá nhân vua chúa quyết định, đồng thời, ngân sách chưa có dự toán, chưa có niên độ, cũng không có luật lệ điều chỉnh. Đến chủ nghĩa tư bản, do sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, do sự mở rộng nội dung quản lí của bộ máy nhà nước, giai cấp tư sản phát triển ngân sách. Nhà nước tư sản mở rộng và tăng cường việc quản lí nhà nước và quản lí tài chính, thực hiện việc lập dự toán và quản lí phù hợp với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nhà nước tư sản không chỉ nuôi dưỡng bộ máy cai trị mà còn hỗ trợ tài chính cho phát triển kinh tế; trật tự ngân sách được thiết lập một cách khoa học và theo chế độ dân chủ tư sản từ kế hoạch hoá đến thực hiện, kiểm tra, quyết toán. Luật ngân sách của Việt Nam ban hành 1996 đã xác định: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước được dự toán và thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. NSNN được hình thành từ mọi khoản thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước; các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức và cá nhân; các khoản cho vay của Chính phủ; các khoản viện trợ và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Chi NSNN được bố trí theo yêu cầu phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước. Ngoài ra, NSNN còn có thể có những nguồn thu khác như thu từ tài sản cho thuê, thu từ giá độc quyền, thu chênh lệch về phát hành trái phiếu (Luật ngân sách của Nhật Bản), hoặc thu từ hoạt động tín dụng (Luật ngân sách của Cộng hoà Liên bang Đức) và các khoản thu khác theo quy định của luật pháp. NSNN bao gồm ngân sách trung ương (xt. Ngân sách trung ương) và ngân sách các cấp chính quyền địa phương (xt. Ngân sách địa phương). Ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương được phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể; ngân sách cấp trên có thể bổ sung (trợ cấp) cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm phát triển nền kinh tế quốc dân cân đối giữa các vùng, các địa phương. Quỹ NSNN là toàn bộ các khoản tiền của nhà nước, kể cả tiền vay, có trên tài khoản của NSNN các cấp. Ngân sách được cân đối theo nguyên tắc tổng chi không vượt quá tổng thu, phấn đấu không bội chi ngân sách hay không bội chi quá mức độ khống chế tối đa, không gây hậu quả lạm phát nguy hại. NSNN ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm dương lịch. NSNN được quản lí thống nhất, có phân công, phân cấp gắn với trách nhiệm quản lí cho các bộ, các ngành hay lĩnh vực trong cả nước và phân quyền cho các đơn vị chính quyền địa phương có tư cách pháp nhân công quyền. Quốc hội quyết định dự toán NSNN và phân bổ NSNN, quyết toán NSNN. Trong điều kiện một nước đang phát triển và bắt đầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, việc bảo đảm cân bằng ngân sách có ý nghĩa rất quan trọng để khắc phục lạm phát, giữ vững sự ổn định và phát triển vững chắc hệ thống tiền tệ, nền tài chính quốc gia và nền kinh tế quốc dân nói chung.
là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Nguồn: 47-L/CTN