(Equidae), họ thú có guốc lớn thuộc bộ Guốc lẻ (Perissodactyla), ăn thực vật; chi có một ngón do ngón chân III phát triển tạo thành, các ngón II và IV tiêu giảm thành que xương nhỏ bám hai bên ngón III. Có ba răng cửa ở mỗi nửa hàm trên và dưới. Có một đôi vú ở bụng dưới. Có 3 chi (giống) hiện sống: N (Equus), Lừa (Asinus) và Ngựa vằn (Hippotigris). Loài Ngựa rừng Pzevanxki (E. przewalskii), hiện sống ở miền Tây Bắc Trung Quốc và miền Nam Mông Cổ, được xem như tổ tiên của nòi N phương Đông. Loài N được thuần dưỡng từ lâu đời là E. cabalus. N nhà thân dài 2,8 m; vai cao 1,6 m, có bộ xương thích nghi với chạy đường dài. Thành thục sau 3 - 4 tuổi. Mang thai 11 tháng. Đẻ trung bình hai năm 1 con. Họ N có 7 loài, phân bố ở Châu Á, Châu Phi. N nhà phân bố rộng khắp thế giới, có khoảng 200 giống, được thuần dưỡng từ lâu đời, dùng để cưỡi, thồ, kéo xe, làm N chiến, N đua. Một số giống N quen thuộc: N Arập tầm vóc trung bình, chạy nhanh, dai sức, lông đốm, trước đây dùng làm N chiến; N Anh có tầm vóc lớn, ngoại hình cân đối, chạy nhanh, trước đây dùng làm N chiến, nay làm N đua; N Mông Cổ tầm vóc lớn, chạy nhanh, dai sức, nay dùng làm N đua; N chăn cừu; N Cacbađin tầm vóc lớn, màu đỏ nâu, chạy nhanh, dùng vận tải hàng, N đua; N thảo nguyên tầm vóc trung bình, tinh khôn, dùng chăn cừu, bò trên vùng thảo nguyên. N Việt Nam nhỏ con, nặng 140 - 170 kg và được gọi theo tên các địa phương, vd. N Cao Bằng, N Bắc Kạn... Nghề nuôi N tập trung ở một số tỉnh trung du, miền núi phía bắc dùng để thồ hàng, kéo xe và cưỡi. Đã tiến hành lai N Việt Nam với N các nước để nâng cao tầm vóc, sức kéo và khả năng thồ, cưỡi của chúng.
Ngựa
1. Ngựa vằn; 2. Lừa; 3. Lừa hoang Mông Cổ; 4. Ngựa hoang; 5. Ngựa Pzevanxki