
một trong số những thành phần hữu hình (hồng cầu, bạch cầu, TC) của máu động vật có xương sống; tham gia vào quá trình đông máu. Ở đa số động vật (trừ động vật có vú), TC là tế bào nhỏ có hình tròn hoặc ôvan và có nhân. Ở động vật có vú, TC không có nhân và có đường kính 2 - 5 mm. Ở người, TC có kích thước nhỏ nhất trong số các tế bào máu, đường kính 3 - 4 mm, được cấu tạo nên từ các mảnh bào tương của mẫu tiểu cầu, do đó TC không có nhân. Ở tuỷ, mẫu tiểu cầu tách ra từ tế bào máu đa năng (nguyên mẫu tiểu cầu). Dưới ảnh hưởng của thromboprotein IL - 6 và IL - 11, nguyên mẫu tiểu cầu phát triển thành mẫu tiểu cầu. Mẫu tiểu cầu phát triển nhanh, có bào tương rất rộng và có khả năng sinh TC. Mỗi mẫu tiểu cầu có thể tạo ra khoảng 3.000 TC; TC trưởng thành rời tuỷ vào máu. Trong 1mm3 máu người, có 150 - 450 nghìn TC; đời sống ngắn (khoảng 9 ngày). TC già được tiêu huỷ ở lách và các tổ chức liên võng khác. TC có các chức năng: dính, ngưng tập và giải phóng một số chất gây hoạt mạch. Nhờ đó TC tham gia vào quá trình đông cầm máu, đặc biệt là giai đoạn cầm máu ban đầu. Trong bệnh lí, có hai trạng thái: tăng số lượng và chức năng của TC sẽ gây đông máu, tắc mạch; giảm số lượng và chất lượng của TC sẽ gây chảy máu. Trong truyền máu, TC có thể tách riêng ra khỏi lượng máu truyền, bảo quản trong 5 ngày ở nhiệt độ 20 - 22oC, đồng thời lắc liên tục để sử dụng cho truyền TC trong điều trị.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|