cơ quan cấu tạo cơ, giữ chức năng đặc biệt trong hệ mạch là đẩy máu tuần hoàn trong cơ thể. Hình dạng, cấu tạo của T thay đổi rất lớn trong giới động vật. Ở giun đốt, có một số mạch bên có khả năng co bóp gọi là T bên. Giáp xác có một T đơn giản với các lỗ T có van (ostia). Ở côn trùng, T là một dãy ngăn hình ống dài, gồm từ 5 đến 11 ngăn chạy dọc lưng, mỗi ngăn có một đôi van. Động vật thân mềm và cá có T hai ngăn. Ở động vật lưỡng cư, T có hai tâm nhĩ và một tâm thất. Ở bò sát, tuy chỉ có một tâm thất nhưng được ngăn một phần bởi một vách ngăn hay ngăn hoàn toàn như cá sấu. Ở động vật có vú, T có bốn ngăn: hai tâm nhĩ ở trên, hai tâm thất ở dưới với hai phần trái phải hoàn toàn tách biệt nhau. Máu tĩnh mạch (bị khử oxi) từ cơ thể trở về tâm nhĩ phải theo tĩnh mạch chủ; máu động mạch (giàu oxi) từ phổi trở về tâm nhĩ trái, theo tĩnh mạch phổi. Tâm nhĩ co bóp đẩy máu vào tâm thất tương ứng. Tâm thất co bóp đẩy máu vào động mạch: động mạch phổi mang máu khử oxi từ tâm thất phải vào phổi và động mạch chủ dẫn máu giàu oxi từ tâm thất trái đi khắp cơ thể. Các van T có tác dụng không cho máu chảy ngược lại. Sự co bóp nhịp nhàng của T cơ bản là tự động. Ở người bình thường, T nặng khoảng 100 - 150 g, có 4 buồng (2 buồng bên phải, 2 buồng bên trái); buồng trên gọi là tâm nhĩ, buồng dưới gọi là tâm thất; giữa tâm nhĩ và tâm thất có van nhĩ thất; giữa tim phải và tim trái có vách ngăn cách hoàn toàn gọi là vách liên nhĩ và vách liên thất, không cho 2 tâm nhĩ phải và trái, 2 tâm thất phải và trái thông với nhau. Lúc nghỉ, T người trưởng thành co bóp chừng 72 lần/phút.
Tim
Sơ đồ mặt cắt dọc tim người
1. Tâm nhĩ trái; 2. Tĩnh mạch phổi; 3. Van hai lá; 4. Tâm thất trái; 5. Vách ngăn liên thất; 6. Tâm thất phải; 7. Tĩnh mạch chủ dưới; 8. Van ba lá; 9. Tâm nhĩ phải; 10. Nút xoang tâm nhĩ; 11. Tĩnh mạch chủ trên; 12. Nút nhĩ thất.