(A. informatics), ngành khoa học kĩ thuật nghiên cứu về thông tin và các quá trình xử lí thông tin tự động. TH có nguồn gốc từ các tính toán toán học và lôgic kí hiệu. Các kết quả nghiên cứu lí thuyết về thuật toán và nguyên lí hoạt động của máy tính do Turinh (A. Turing) và Phôn Noiman (J. von Neumann) đề xuất..., kết hợp với những tiến bộ kĩ thuật về điện tử và cách biểu diễn thông tin bằng tín hiệu điện tử đã dẫn tới sự ra đời của các máy tính điện tử đầu tiên vào cuối những năm 1940. Cùng với những tiến bộ nhanh chóng của kĩ thuật máy tính điện tử, TH đã dần dần hình thành và phát triển thành ngành khoa học độc lập từ những năm 1960. Nội dung của TH là việc mô phỏng các cơ chế hoạt động thông tin của bộ óc con người, trên cơ sở đó tạo ra các máy móc thực hiện tự động các quá trình xử lí thông tin và tri thức với tốc độ nhanh, khả năng lưu trữ thông tin lớn, từ đó mở rộng ứng dụng vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Các lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu của TH bao gồm: thuật toán và cấu trúc dữ liệu, kiến trúc máy tính, hệ điều hành, tính toán số và kí hiệu, ngôn ngữ lập trình, phương pháp luận và công nghệ phần mềm, cơ sở dữ liệu và các hệ tìm kiếm thông tin, trí tuệ nhân tạo và người máy, giao tiếp người - máy, vv.