1. Một trong ba thành tố cấu tạo nên cấu trúc âm tiết ở một số ngôn ngữ phương Đông. Đối với tiếng Việt, V là bộ phận không thể thiếu được trong một cấu trúc âm tiết, về vị trí, nó xuất hiện sau thuỷ âm. Hạt nhân của V là âm chính, nơi xuất hiện các nguyên âm, phần kết thúc của V là nơi có thể xuất hiện các phụ âm không bật ra, bao gồm các phụ âm zêrô, hai bán nguyên âm - j và - w và 3 cặp tương liên mũi - miệng: m/p, n/t, ng/k. Phía trước V, tiếp giáp ngay sau thuỷ âm, là giới âm - u -. Trước xu hướng hiện nay, giới âm này đang được thu hẹp dần phạm vi tác dụng. Tiếng Việt gồm 154 V chia thành 4 loại theo yếu tố kết thúc, đó là: V mở (có âm cuối zêrô), V nửa mở (có âm cuối là bán nguyên âm), V nửa khép (có âm cuối là âm mũi) và V khép (có âm cuối là âm tắc miệng). Sự phân loại này là xuất phát từ truyền thống thi pháp Việt - các hiện tượng gieo V trong thi ca.
2. Phần được lặp lại để nối kết và tách biệt các dòng thơ, khổ thơ theo truyền thống. Vd. trong thơ lục bát Việt, chữ thứ sáu của câu lục bắt V với chữ thứ tám của câu bát, chữ thứ tám của câu bát lại bắt V với chữ thứ sáu của câu lục tiếp theo và cứ lặp lại như thế cho đến dòng thơ cuối cùng.