vitamin

(cg. sinh tố), các chất hữu cơ có phân tử khối thấp, có bản chất hoá học khác nhau, với lượng rất nhỏ nhưng cần thiết cho sự sống của người và động vật. Cơ thể người và động vật hầu như không tự tổng hợp được V mà phải lấy từ thức ăn hằng ngày. Nhiều V là thành phần của các coenzim. V được chiết xuất đầu tiên từ cám gạo, làm mất triệu chứng của bệnh tê phù. Dựa vào tính chất hoà tan, người ta chia V làm hai loại: loại tan trong dầu, mỡ (vitamin A, D, E, K), thường được hấp thu ở ruột cùng với các chất dầu mỡ trong thức ăn, được dự trữ trong gan với một lượng khá lớn; loại tan trong nước (vitamin B, C, P) có lượng dự trữ trong cơ thể rất ít không đáng kể. Vitamin A (retinol) giữ cho biểu mô không bị xơ chai, chống sự xâm lấn của vi khuẩn gây bệnh, tham gia duy trì tính nhạy cảm của mắt đối với việc thu nhận ánh sáng. Vitamin E tham gia vào quá trình điều hoà sinh sản, chống lão hoá, chống phóng xạ. Hiện nay, một số hoá chất được một số bác sĩ xếp vào loại V, vd. procain và novocain 2% được xếp vào loại vitamin H3 có tác dụng dinh dưỡng và tái tạo trong các hiện tượng lão suy. Thiếu V sẽ gây nhiễm bệnh (x. Thiếu vitamin).V rất cần thiết cho sự sống, nhưng nếu lạm dụng thì phát sinh bệnh thừa V và có hại. Ở động vật, thừa vitamin A gây chứng gầy mòn, viêm mắt, rụng lông, vv. Thừa vitamin D sẽ làm cho muối canxi tích luỹ ở các mô khác của cơ thể ngoài mô sụn. Các chất kháng V là hợp chất hữu cơ có tác dụng ngược lại với các V và gây ra hiện tượng thiếu V ở người, động vật và vi sinh vật. Chất kháng V có cấu tạo hoá học gần giống V tương ứng, khi xâm nhập vào cơ thể thường đẩy V ra khỏi các coenzim, do đó làm cho hệ enzim mất hoạt tính và làm ngừng quá trình chuyển hoá. Chất đối kháng của vitamin K là đicumarol và axitsalixylic. Dùng V để chữa một số bệnh ở cơ quan nội tạng, bệnh da, rối loạn thần kinh, vv.; hoặc để thoả mãn nhu cầu tăng về V trong những trạng thái sinh lí như có thai, cho con bú (gọi là liệu pháp vitamin); hoặc dùng chủ yếu cho cơ thể mắc bệnh thiếu V (gọi là liệu pháp thay thế cho V thiếu hụt).

V là thành phần quan trọng của thức ăn: nhiệt lượng của khẩu phần càng cao, thì nhu cầu vitamin B, đặc biệt là B1 càng lớn. Bệnh tê phù do thiếu vitamin B1 thường xảy ra vì ăn gạo chất lượng kém, xay xát quá trắng, hoặc sau các vụ úng lụt lúa bị ngâm lâu dưới nước, hàm lượng vitamin B1 giảm. Rau xanh, quả chín là nguồn chủ chốt của vitamin C và caroten (tiền vitamin A) có giá trị phòng bệnh cao.



vitamin

Lĩnh vực: y học
 cyanocobalamin

Chứng khô mắt (bệnh mắt do thiếu vitamin A)
 xerophthamia
bệnh rối loạn dinh dưỡng do thiếu vitamin B
 Beriberi
bệnh scobut (bệnh thiếu vitamin C)
 scorbutus
bệnh thiếu nhiều loại vitamin
 polyavitaminosis
bệnh thiếu vitamin
 subvitaminosis
chất khoáng vitamin
 vitagonist
chứng loạn vitamin
 dysvitaminosis
chứng thiếu vitamin
 avitaminosis
chứng thiếu vitamin
 hypovitaminosis
dẫn xuất của vitamin B6
 pyridoxal phosphate
loại vitamin
 vitamer
loại vitamin B rất quan trọng trong sự tổng hợp nucleic axit (azit nhân)
 folic acid
một dạng vitamin K
 Phytomenadione
rối loạn thừa vitamin
 hypervitaminosis
tác dụng vitamin
 vitaminoid action
vitamin D
 cholecalciferol
vitamin học
 vitaminology
vitamin tan trong nước
 vitamin C
vitamin thuộc nhóm tan trong nước
 vitamin B