
thú rừng ăn thịt. Ở hang. Mình dài, chân thấp, tai nhỏ, đuôi dài rậm. Có các loài: 1) C giông (Viverra zibetha), nặng 7 - 8 kg, lông màu sáng, có sọc ở thân và khoanh tròn ở đuôi. Đuôi dài và to. Khả năng bắt mồi mạnh hơn các loài C khác. Ăn gà, vịt, thỏ, sóc, ếch và nhiều loại củ, quả, hạt. Sống đơn độc. Chỉ giao phối vào mùa xuân - hè, đẻ vào mùa hè - thu, mỗi lứa 2 - 4 con. 2) C hương Malai (Viverricula malaccensis), nặng 2 - 4 kg, nhỏ, đầu dài, thân 53 - 63 cm, chi ngắn. Lông có nhiều đốm nhỏ xếp thành hàng. Đuôi dài có 6 - 9 khoanh trắng, thẫm xen kẽ. Có túi xạ gần hậu môn. Ở Malaixia được khai thác làm hương liệu. Chỉ ghép đôi khi động hớn, đẻ 3 - 5 con trong hốc đất. Sống 8 - 9 năm. Phân bố ở nhiều nước Châu Á. Ở Việt Nam, có từ Bắc tới Nam.3) C hương Ấn Độ (Viverricula indica), nặng 4 - 5 kg, mõm nhọn, đầu dài, tai ngắn, đuôi dài và to. Lông xám vàng, có sọc thân và khoanh đuôi. Mùa xuân phát xạ rất thơm để tìm đôi giao phối. Sinh sản vào mùa hè - thu; mỗi lứa đẻ 2 - 4 con. Trưởng thành khi 2 tuổi. Được thuần dưỡng để lấy xạ hương làm dược liệu.