sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho V giao cho bên V một khoản tiền hoặc một vật; khi đến hạn trả, bên V phải hoàn trả tiền hoặc vật cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định. Hợp đồng V tài sản có thể được giao kết bằng lời nói hoặc bằng văn bản; nếu các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định hợp đồng V phải được lập thành văn bản, thì phải tuân theo hình thức đó. Bên V trở thành chủ sở hữu tài sản V kể từ thời điểm nhận tài sản đó. Bên cho V có các nghĩa vụ: giao tài sản cho bên V đầy đủ, đúng chất lượng vào thời điểm và tại địa điểm đã thoả thuận; bồi thường thiệt hại cho bên V, nếu bên cho V biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báo cho bên V biết, trừ trường hợp bên V biết mà vẫn nhận tài sản đó; không được yêu cầu bên V trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy định tại điều 475 của Bộ luật dân sự.
Bên V tài sản là tiền, thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật, thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Trong trường hợp bên V không thể trả vật, thì có thể trả bằng tiền theo giá trị của vật đã V tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho V đồng ý. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho V, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Trong trường hợp V không có lãi mà khi đến hạn bên V không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, thì bên V phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả lãi theo lãi suất tiết kiệm có kì hạn của Ngân hàng nhà nước tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận. Trong trường hợp V có lãi mà khi đến hạn bên V không trả hoặc trả không đầy đủ, thì bên V phải trả lãi trên nợ gốc và lãi theo lãi suất nợ quá hạn của Ngân hàng nhà nước ứng với thời hạn V tại thời điểm trả nợ. Các bên có thể thoả thuận về việc tài sản V phải được sử dụng đúng mục đích V; bên cho V có quyền kiểm tra việc sử dụng tài sản và có quyền đòi lại tài sản V trước thời hạn, nếu đã nhắc nhở mà bên V vẫn sử dụng tài sản trái mục đích. Lãi suất V do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng nhà nước quy định đối với loại cho V tương ứng. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi trong việc V, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất, thì áp dụng lãi suất tiết kiệm có kì hạn do Ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời hạn V tại thời điểm trả nợ. Đối với hợp đồng V không kì hạn và không có lãi, thì bên cho V có quyền đòi lại tài sản và bên V cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước trong một thời gian hợp lí, nếu không có thoả thuận khác. Đối với hợp đồng V không kì hạn và có lãi, thì bên cho V có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên cho V trong một thời gian hợp lí và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên V cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên V trong một thời gian hợp lí. Đối với hợp đồng V có kì hạn và không có lãi, thì bên V có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên cho V trong một thời gian hợp lí, còn bên cho V chỉ được đòi lại tài sản trước kì hạn, nếu được bên V đồng ý. Đối với hợp đồng V có kì hạn và có lãi thì bên V có quyền trả lại tài sản trước kì hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kì hạn, nếu không có thoả thuận khác.