
- d. 1 . Hố để chôn người chết. 2. Chỗ hiểm yếu trong người : Đánh trúng huyệt.
(tên gọi chung: du H, khí H, khổng H, cốt H), nơi kinh khí và khí của các tạng phủ hoặc có thể tập trung đến hoặc dừng lại hoặc đi ra ngoài cơ thể, tiếp thu các loại kích thích từ hoàn cảnh xung quanh (châm cứu, chỉ châm, điện châm, laze), nơi áp dụng thủ thuật châm cứu chữa bệnh. Chia làm 3 loại: 1) H nằm trên đường kinh hay kinh H, phân bố trên tuyến lộ tuần hành của 12 kinh mạch chính và 2 đường kinh phụ (đốc mạch, nhâm mạch); có 371 tân H; hai bên người có 690 H; 2) H nằm ngoài đường kinh hay kinh kì ngoại H (có khoảng 200 H); 3) H a thị hay thống điểm, thiên ứng H có vị trí không nhất định, tương ứng với nơi đau. Một số H đặc biệt: a) H nguyên là nơi tập trung khí huyết nhất của một đường kinh, ở vùng cận khớp cổ tay và khớp mắt cá; 12 đường kinh có 12 H nguyên (Thái nguyên là H nguyên của kinh phế, Thái xung - H nguyên của kinh can, Hợp cốc - H nguyên của kinh đại trường, vv.); b) H lạc hay H trên đường kinh lạc mạch có liên quan biểu lí với đường mạch; có 15 H lạc (12 trên đường kinh chính, 2 trên đường kinh phụ, 1 tổng lạc và H Đại bao ở kinh tì); c) H du: tương ứng với các phủ tạng; nằm ở kinh bàng quang sau lưng; có 12 H du tương ứng với 12 tạng phủ (vd. phế du thuộc kinh phế, vv. ); d) H mộ: H nằm trên các đường kinh đi qua ngực, bụng tương ứng với các phủ tạng; có 12 H mộ (trung phủ là H mộ của phế, vv); đ) H ngũ du: H của một đường kinh ở tứ chi, xa các đốt ngón tay, ngón chân, từ khuỷu và đầu gối trở xuống. Mỗi tạng đều có 5 du huyệt, các lục phủ có 6 du H, tổng số có 72 du huyệt; e) H hội: nơi gặp nhau của 2 đường kinh trở lên. Đại chùy là huyệt hội của 3 đường kinh tì, can, thận; g) H khích: H trên một đường kinh, ở những nơi rỗng, rãnh nào đó trong cơ thể mà có khí H hội tụ, có những thay đổi cảm giác (đau, chướng, vv.) khi tạng phủ hay đường kinh mang tên tạng phủ có bệnh; dùng để chẩn đoán (kinh lạc chẩn) hay chữa các chứng bệnh cấp tính do nội tạng.
xem thêm: hang, hầm, hốc, hố, lỗ, huyệt