làng

- d. 1 Khối dân cư ở nông thôn làm thành một đơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt, và là đơn vị hành chính thấp nhất thời phong kiến. Luỹ tre quanh làng. Người cùng làng. Phép vua thua lệ làng (tng.). 2 (kng.; dùng trong một số tổ hợp). Những người cùng một nghề, một việc nào đó (nói tổng quát). Làng báo. Làng thơ.


đơn vị tụ cư cổ truyền ở nông thôn người Việt, tương đương với sóc (của người Khơ Me), bản (của dân tộc thiểu số phía bắc), buôn (Trường Sơn - Tây Nguyên); một kết cấu cư trú, kinh tế, xã hội, văn hoá đa dạng, một trong 3 khâu quan trọng của cấu trúc xã hội truyền thống, nối liền nhà với nước. Xuất hiện rất sớm, từ thời Hùng Vương dựng nước, gọi là chạ, trải qua một lịch sử phát triển và biến đổi lâu dài. Lúc đầu có thể là nơi cư trú của một dòng họ. Về sau, có nhiều dòng họ cùng cư trú, trong đó thường có 2 - 3 dòng họ lớn. Trong mỗi L có 2 mối quan hệ: quan hệ huyết thống và quan hệ láng giềng. Mỗi L nguyên là một công xã nông thôn. Cơ sở kinh tế chung của L là ruộng công, nhất là đối với Miền Trung và Miền Bắc là nơi mà quá trình tư hữu hoá ruộng đất diễn ra không mạnh mẽ như ở Miền Nam. Số ruộng công được định kì chia cho các suất đinh trong L canh tác. Cho đến trước 1945, dưới L có phe. Trên L có tổng (dưới huyện). L có 2 bộ máy điều hành: bộ máy hành chính gồm lí dịch; bộ máy tự quản gồm tiên chỉ, thứ chỉ, kì mục. Bên cạnh việc thi hành luật pháp của nhà nước, L có lệ L, có hương ước và khoán ước; giữa một số L như ở Miền Bắc có tục kết chạ. L còn giữ một số yếu tố dân chủ, thô sơ thể hiện trong bầu cử, bãi miễn các chức vụ lí dịch và bộ máy tự quản. Mỗi L có đình thờ thành hoàng, thường là người có công chống giặc ngoại xâm hay có công chiêu dân lập ấp, hoặc là các vị tổ sư các ngành nghề thủ công. Bên cạnh đình có chùa thờ Phật, văn chỉ hay đền thờ Khổng Tử. L Công giáo có nhà thờ đạo Thiên Chúa. L có những sinh hoạt văn hoá cộng đồng, thể hiện trong các lễ hội, các trò chơi dân gian. L có văn hoá xóm làng, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc. Có nhiều loại hình L: L thuần nông, L thủ công, làngbuôn, L vạn chài, ... Do thời gian và điều kiện hình thành không giống nhau, cho nên L Miền Nam, L Miền Bắc và L Miền Trung không hoàn toàn giống nhau.

Trước 1945, bên cạnh đó có L một số yếu tố tích cực như tính cộng đồng làng xã, một số nét dân chủ, sự duy trì văn hoá xóm làng,vv. L có những nét tiêu cực (ý thức hệ phong kiến, tôn ti trật tự nặng nề; sự bất bình đẳng tài sản, nam nữ, chính cư, ngụ cư, tính hạn hẹp của tinh thần cộng đồng làng xã, nhiều hủ tục, vv.). Thực dân Pháp có tiến hành một số cuộc cải lương hương chính, nhưng không mang lại kết quả. Sau Cách mạng tháng Tám, làng xã thay đổi dần, từng bước hoàn thiện theo thể chế chính trị mới của Nhà nước Việt Nam.


nd. 1. Khối dân cư ở nông thôn là đơn vị hành chánh thấp nhất thời phong kiến. Người cùng làng. Phép vua thua lệ làng (t.ng).
2. Những người cùng một nghề hay cùng làm một việc. Làng báo. Làng văn.

xem thêm: làng, làng mạc, , thôn, xóm, bản, buôn, sóc



làng

làng
  • noun
    • Village
      • làng ta đã hợp với sáu làng chung quanh thành một xã: our village has merged with six other neighbouring ones into a commune
      • dân làng: villager
    • Set, table (in a game), circles
      • làng báo: the press circles
      • nhà cái thua cả làng: the banker lost to all the table
      • làng nho: the Chinese scholar circles
    • FLOATING VILLAGES: Rearing fish in cages under rafts has become increasingly common in a number of countries, but perhaps nowhere is this occupation as advantageous as in Vietnam with its maze of rivers and streams criss-crossing the country from north to south, from west to east, totalling perhaps millions of kilometres in length.When it comes to raising fish in cages, AnGiang province in the Mekong River delta has always taken the lead. It has 40 to 50 years' experience, has the biggest number of cages and produces more caged fish than any other locality in the country. It is no exaggeration to say that the fishing rafts on AnGiang rivers are true floating villages.If you ever come to AnGiang, do not fail to visit Cồn Tiên where you can fully appreciate the poetic nature of such villages. They are made of large rafts of either bamboo or timber depending on the capabilities of the fish raisers. In most cases, they are timber rafts measuring about 12 by 5 metres and 3 metres in height. After five months -- the usual time for the fish to complete their life cycle -- the family of the fish raiser anchors the raft on some part of the Tiền, Hậu, or Châu Đốc rivers or any major canals. At present, most districts in AnGiang such as Long Xuyên, Châu Đốc, Chợ Mới, Phú Tân, Phú Châu and Châu Phú raise caged fish, but this occupation is still essentially practised in Cồn Tiên village, Châu Đốc township Cồn Tiên has the advantage of being located near the supply centre for young fish and fish meal (the Châu Đốc market) and also on a fast-flowing river. Cồn Tiên actually accounts for almost half of all the fish rafts of AnGiang provincẹThe two main fish species raised in cages in AnGiang are the Ba Sa and Chai which take their food from the water surface. Their food consists chiefly of rice bran mixed with vegetables such as pumpkin.A raft for rearing 50,000 Ba Sa fish needs about 3,500 kilograms of food, but for rearing 10,000 to 20,000 Chai, only 00 to 800 kilos of food are required. One raft needs only three workhands. The first harvest from a raft averages 12 tonnes of Ba Sa and three tonnes of he or Chai fish.+Net profit may account for 25 % - 30 % of the proceeds. But not everything has been plain sailing for the fish raisers of AnGiang. At its peak year, AnGiang had 1,200 rafts. In 1971, there were only 662 and the number slumped to 225 in 1980. A rapid recovery began in 1984, when the local government decreed new policies on prices and on the rearing and marketing of caged fish. Early in 1990, the AnGiang Aquatic Produce Import- Export Company loaned fish raisers three billion dong. It also found markets for caged fish in Australia, Hong Kong and Singapore. Subsequently, the number of rafts rose to 715 and fish output to 14,000 tonnes, double the figures for 1989. The expansion also provided jobs for 4,000 people. One of the biggest problems in caged fish raising in AnGiang is the supply of young fish, since most of them come from natural breeding. Production of all other fish still depends on natural breeding. Research and experimentation in this direction with regard to fish such as Ba Sa, Chai and Bong are going on at the provincial sciences committee. In recent years, caged fish raising has also been undertaken by other provinces such as Hà Tây, Hà Bắc and Vĩnh Phú in the north and Hậu Giang, Đồng Tháp and Long An in the south. In Hà Tây province west of Hà Nội, 200 families in the district of Ba Vì, Dan Phương and Mỹ Đức keep more than 200 fish cages along the Đà and Red Rivers. Ba Vì district alone has 165 cages, mainly raising Indian carp. They yield from two to three tonnes of fish per cage. On average, the fish raisers get from 16 to 24 million dong in income and about seven million in net profit. Riverside villages such as Thuan My, Tay Dang, Co Do and Minh Châu are gradually shifting from fishing in the river to raising fish in cages. The administration in Ba Vì has made a uniform loan of one million dong to every family of fish raisers. Experts are providing technical assistance to make fish spawn in the rivers, thus reducing production costs. Many families of farmers are also raising fish as a secondary occupation besides cultivation. One thousand families of farmers in Ba Vì district have registered for caged fish raising

 village
  • đình làng: village hall
  • đường làng: village road
  • làng (xóm): village
  • làng an dưỡng: health-resort village
  • làng bao: village of circular development
  • làng lịch sử: historic village
  • làng nghỉ: holiday village
  • làng olimpic: olympic village
  • làng xây (thánh) vòng: village of circular development
  • làng xây tập trung: village of compact development
  • làng xây theo tuyến: village of ribbon development
  • quảng trường (ở) làng: village square
  • sự xây dựng làng hình thoi: spindle-pattern village development
  • sự xây dựng làng hình tròn: ring-pattern village development

  • đường làng
     lane
    đường qua làng
     cartway
    đường qua làng
     country road
    làng bảo vệ rừng
     forestry settlement
    làng của người da đỏ
     pueblo
    trường làng
     rural school
    trường làng
     rutal school
    trung tâm phục vụ một nhóm làng
     social and welfare center for a group of villages
    vùng ngoài làng
     outer zone of settlement
    vùng ven làng
     outer zone of settlement