1. (sân khấu), tổ chức xã hội của nghệ nhân rối cạn, rối nước, chèo do thành viên tự đóng góp hoặc do một người có của, có thế lực trong làng lập ra. Thường có quy ước chung ghi thành văn bản làm luật lệ. Phạm vi hạn chế trong từng xã, thôn xóm, gia đình; tồn tại độc lập, hoạt động tự do, tự cấp tự túc, vào ra tuỳ ý, đậm đà tính chất “chơi”, “vui”. Nhiều thành viên chỉ đóng góp bằng công hoạt động của mình, phục vụ cho hoạt động chung. Người đứng đầu gọi là trùm. Hằng năm có tế tổ, và hội họp bàn định công việc.
2. (múa), tổ chức nhạc múa trình diễn trong đám tang của các dân tộc Tày, Nùng ở vùng Ngân Sơn, Cao - Bắc - Lạng. P gồm: tốp nhạc, tốp ca, và tốp múa. Tốp múa hoá trang những con đười ươi, gọi là báo động, và những con chim Nôộc niệc múa trước linh cữu để tiễn đưa linh hồn người đã chết về thế giới bên kia. Động tác lấy từ động tác múa dân gian, dân tộc kết hợp với động tác sinh hoạt.