công trình thuỷ công chắn ngang sông, suối, tạo ra độ chênh lệch mực nước trước (phía thượng lưu) và sau (phía hạ lưu) công trình để dâng cao mực nước, tạo thành hồ chứa ở phía thượng lưu; dẫn dòng từ hồ chứa vào mương dẫn; tạo đầu nước phát thuỷ điện; cải tạo điều kiện vận tải thuỷ hoặc để ngăn giữ các vật trôi theo dòng chảy. Tuỳ theo mục đích, vật liệu dùng để đắp Đ, kết cấu công trình mà phân ra các loại đập: Đ dâng như Đ Bái Thượng (Sông Chu, Thanh Hoá), Đ Đô Lương (Sông Cả, Nghệ An, Hà Tĩnh); Đ đất cao nhất đến trên 300 m như Đ Rôgun (Rogun), Đ Nurêch (đập được gọi theo tên thành phố Nurek) ở Tatjikixtan (1985); Đ đất đá hỗn hợp như Đ Trị An trên sông Đồng Nai, cao 40 m; Đ đá đổ như Đ Hoà Bình trên Sông Đà, cao 125 m; Đ bê tông trọng lực như Đ Grăng Đixenxơ (Grande Dixence Dam, trên sông Dixence) ở Thuỵ Sĩ (1961); Đ vòm như Đ Inguri (đập trên sông Inguri) ở Gruzia (1985), cao 272 m; Đ Huvơ (đập mang tên H. Hoover, tổng thống Hoa Kì) ở Hoa Kì (1936), cao 221 m; Đ liên vòm như Đ Jônxơn (Johnson) ở Canađa, cao 214 m; Đ trụ chống như Đ Zêia (đập trên sông Zeja) ở Nga (1975), cao 112 m. Đ ảnh hưởng đến tất cả các yếu tố của dòng chảy, lòng sông và cả nước ngầm; có hiệu quả lớn trong việc điều chỉnh lưu lượng từ thượng lưu về hạ lưu để phục vụ kinh tế quốc dân.