phản ứng làm cho những chất chứa trong dạ dày bị tống vọt ra ngoài miệng. Cần phân biệt với khạc ộc mủ, khạc ra máu (x. Khái huyết; Khái mủ). Nguyên nhân gây N: viêm họng (hết rất nhanh); nghén (x. Nghén); các bệnh cấp cứu ở bụng như viêm ruột thừa, viêm túi mật, tắc ruột (chất nôn có thể lẫn phân lỏng); các bệnh đường tiêu hoá (loét dạ dày, đầy hơi, vv.); các bệnh ngộ độc như ngộ độc thuốc trợ tim (digitalis, vv.), thuốc trừ sâu, kim loại nặng (chì, đồng, vv.); các bệnh nhiễm khuẩn như viêm gan, viêm màng não (nôn vọt ở trẻ em), nôn chu kì (ở trẻ em, kèm theo các bệnh ở khớp xương, hết rất nhanh sau 2 - 4 ngày); các bệnh thần kinh (u não, tăng áp lực não,vv.); các bệnh tâm thần. Điều trị theo nguyên nhân. Điều trị triệu chứng: liệu pháp tâm lí; thường dùng thuốc chống N như scopolamin (viên, băng dính), thuốc kháng histamin như promethazin (sirô, viên), viên halopyridol (x. Thuốc chống loạn tâm thần). Nói chung, không dùng thuốc chống N trong 3 tháng đầu mang thai; nếu N quá nhiều, có thể thử dùng promethazin. Y học cổ truyền gọi nôn mửa là ẩu thổ, do khí của vị nghịch lên, thường chia ra các thể: 1) N do hàn có thể chữa bằng uống nước sắc với gừng hoặc ăn củ gừng sống... chiêu với nước nóng, hoặc dùng bài thuốc: hoắc hương 12 g, củ sả 10 g, can khương (gừng khô) 8 g, tô tử 12 g, trần bì 12 g, sinh khương (gừng tươi) 8 g; 2) N do nhiệt có thể dùng bài: hoắc hương 12 g, chi tử 8 g, rau má 16 g, sinh khương 12 g, gạo nếp sao vàng 8 g; sắc uống; 3) N do thương thực, có thể uống nước sắc gừng, hoặc dùng bài thuốc hoắc hương 12 g, trần bì 12 g, củ sả 8 g, hậu phác 12 g, sinh khương 12 g. Bài thuốc chữa N chung cho các loại: bán hạ 8 g, sinh khương 5 g, sắc uống. Châm cứu các huyệt: Nội quan, Trung quản, Túc tam lí.